ICCPR LÀ GÌ

 - 
*

*
*
*
*
*
*
*
*

twitter
*
Bản in
*
Gởi bài viết
ICCPR điều chỉnh những quyền cơ bản của con người thuộc phạm trù các quyền dân sự, chính trị. Các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận/biểu đạt, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật...

Bạn đang xem: Iccpr là gì


Theo Wikipedia bách khoa toàn thư: “Tự do ngôn luậnlà sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệthoặc hạn chế. Thuật ngữ đồng nghĩa vớitự do biểu đạt/diễn đạt hoặctự do thể hiện(freedom of expression) đôi khi còn được dùng để nói đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận, và chia sẻ thông tinhoặc quan niệm, quan điểm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thôngnào.”
Quyền tự do ngôn luận được thừa nhận như là một quyền con ngườitrong Điều 19 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyềncon người năm 1948 và được thừa nhậntại Điều 19của ICCPR. Khoản 2 Điều 19 ICCPR quy định như sau: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.”
Như vậy, theo định nghĩa trên, thì chúng ta thấy rằng từ do ngôn luận chính là tự do biểu đạt/diễn đạt hoặctự do thể hiện…Quyền tự do ngôn luận chính là quyền tự do biểu đạt. Nội hàm của quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, tức là tìm tin, tiếp tin và phát tin. Quyền này cho phép cá nhân/công dân được tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến để phục vụ cho nhu cầu của mình.
Con người có rất nhiều hình thức để biểu đạt quan điểm, tư tưởng hay cảm xúc của mình. Có những biểu đạt bằng cơ thể, thông qua khuôn mặt, mắt, chân, tay, ngón tay. Cũng có những biểu đạt thông qua giọng nói, tiếng nói, chẳng hạn như nói chuyện, trao đổi, la hét, gào khóc, hát…hoặc thông qua ngôn ngữ, chữ viết, chữ in, báo chí, sách vở, thông qua hình vẽ, tranh vẽ, ảnh chụp, ký hiệu, chữ ký… Trong nhiều tình huống, sự im lặng cũng là một cách biểu đạt.
Nếu như ngôn ngữ (nói, viết) được coi là cái vỏ của tư duy, thì biểu đạt chính là tập hợp các hình thức thể hiện tư tưởng của con người, trong đó bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc sử dụng các dạng ngôn ngữ theo quan niệm truyền thống. Quan niệm chung cho rằng, biểu đạt còn được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật như văn học (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký…), hội hoạ, âm nhạc, ca hát, nhảy múa, điêu khắc… Các hình thức này thường đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo, tài năng của chủ thể sáng tạo. Có nhiều hình thức biểu đạt kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật như điện ảnh, ca kịch… Tự do biểu đạt có thể về bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội...).
Trong Bình luận chung số 34 (đoạn 11), Ủy Ban nhân quyền (HRC) giải thích khoản 2 Điều 19 rằng “quyền này bao gồm các tranh luận chính trị, bình luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về quyền con người, báo chí, các biểu đạt về văn hóa và nghệ thuật, giáo dục và tranh luận tôn giáo”. Trong phán quyết về một số vụ việc, HRC khẳng định rằng phạm vi tự do biểu đạt được bảo vệ bao gồm các phát biểu, thảo luận về chính trị, quyền tự do biểu đạt bao trùm cả lĩnh vực thương mại và nhiều lĩnh vực khác.

Xem thêm: Ý Nghĩa Số 63 Là Con Gì ? Con Số "Lộc Tài" Có "Tài Lộc" Không?


Tại đoạn 1 Bình luận chung số 10 (1983), HRC đã phân biệt giữa “quyền giữ quan điểm” với “quyền tự do biểu đạt”. Ủy ban khẳng định quyền được giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp nêu ở khoản 1 Điều 19 là quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia. Tuy nhiên, quyền tự do biểu đạt có thể phải chịu những hạn chế nhất định, với điều kiện những hạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các mục đích như nêu ở khoản 3 Điều 19. Việc giữ quan điểm của cá nhân là hành vi chủ động và là một tự do tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối của quyền giữ quan điểm sẽ kết thúc khi một người bày tỏ, biểu đạt hay phát ngôn quan điểm của mình. Hành động này đã sang “tự do biểu đạt”.
Khoản 3 Điều 19 ICCPR khẳng định việc thực hiện quyền tự do biểu đạt “đi kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt”. Cụ thể, quyền này phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc danh dự của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức công chúng.
Về những điều kiện khi áp đặt hạn chế với quyền này, trong Bình luận chung số 34, HRC nhấn mạnh: Tuy nhiên, khi quốc gia thành viên đặt ra những hạn chế với việc thực hành quyền tự do biểu đạt, các biện pháp hạn chế này không được làm ảnh hưởng đến bản chất của quyền...(đoạn 21).
Các giới hạn đối với tự do biểu đạt thường không nhắm thẳng đến người biểu đạt, tác giả của biểu đạt, mà thường hướng đến các phương tiện biểu đạt. Chẳng hạn việc kiểm duyệt, cấm nhập khẩu, cấm phổ biến, tịch thu, thu hồi một tác phẩm đã xuất bản, một bộ phim, một đĩa nhạc… Các loại can thiệp này không bị cấm tuyệt đối theo Điều 19 ICCPR. Tuy nhiên, cần căn cứ vào Khoản 3 Điều 19 để đánh giá, nếu việc giới hạn vượt quá mức độ cần thiết là sự xâm phạm quyền tự do biểu đạt. Loại can thiệp phổ biến thứ hai thường hướng đến ngăn chặn gián tiếp các biểu đạt trái ý, thông qua việc nhà nước kiểm soát các pháp nhân, chẳng hạn như các nhà xuất bản, công ty in, tòa báo, đài phát thanh, đài truyền hình, doanh nghiệp phân phối phim, rạp hát. Loại vi phạm thứ ba trực tiếp hướng đến cá nhân muốn biểu đạt (tác giả, người biên tập, chủ sở hữu công ty in…).

Xem thêm: Tín Ngưỡng Là Gì? Ưỡng Là Gì? Tôn Giáo Là Gì? Mê Tín Dị Đoan Là Gì? Mối Quan


Ở Việt Nam, các quyền tự do biểu đạt được bảo đảm trên thực tế ngày càng tốt hơn nhờ sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng. Các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách tại Quốc hội, các cuộc tọa đàm, tranh luận, các thông tin đa chiều trên phương tiện thông tin đại chúng về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội và người dân là thực tiễn diễn ra hàng ngày trong đời sống của người dân Việt Nam đó chính là sự đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin của người dân. Bên cạnh đó, công dân Việt Nam có thể đến các cơ quan chức năng để yêu cầu cung cấp các thông tin phục vụ cho mình theo quy định của pháp luật. Việc phát tin được thực hiện mà không có sự can thiệp của bất kỳ cơ quan tổ chức nào nếu việc phát tin đó không vi phạm các quy định của pháp luật. Dự án Luật Tiếp cận thông tin đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII sắp tới sẽ được trình Quốc Hội tại kỳ họp thứ 10, Khoá XIII sẽ đáp ứng tốt hơn cho cá nhân/công dân Việt Nam trong thực hiện tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin, ý tưởng. Việc sửa đổi Luật Báo chí cũng đang được tiến hành, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, Khoá XIII.